Phát biểu tại diễn đàn chính sách về Dân tộc Thiểu số

Thực trạng nguồn nhân lực vùng dân tộc, miền núi và giải pháp triển khai thực hiện các chính sách phát triển nhân lực vùng dân tộc, miền núi đến năm 2020

Diễn giả: Bà Pratibha, Điều phối viên Thường trú của Liên Hợp Quốc tại Việt Nam
Ngày:     14/8/2012
Sự kiện:  Diễn đàn chính sách về Dân tộc Thiểu số: Thực trạng nguồn nhân lực vùng dân tộc, miền núi và giải pháp triển khai thực hiện các chính sách phát triển nhân lực vùng dân tộc, miền núi đến năm 2020

Kính thưa
Ông K’Sor Phước, Chủ tịch Hội đồng Dân tộc, Quốc hội
Ông Giàng Seo Phử, Chủ nhiệm - Bộ trưởng Uỷ ban Dân tộc
Đại diện các cơ quan Quốc hội, Bộ ngành, Địa phương, các đại biểu người DTTS
Đại diện các Sứ quán, đối tác phát triển
Thưa các đồng nghiệp và cơ quan báo chí,

Trước tiên, thay mặt cho các cơ quan Liên Hợp Quốc tại Việt nam, tôi xin ghi nhận và đánh giá cao nỗ lực của Chính phủ Việt nam, đặc biệt của Uỷ ban Dân tộc, trong việc tổ chức những cuộc đối thoại hết sức cởi mở về các vấn đề dân tộc thiểu số (DTTS) và học hỏi từ kinh nghiệm quốc tế.

Điều này được thể hiện qua một loạt những hoạt động của Chính phủ đã tiến hành trong thời gian qua như việc tổ chức Diễn đàn Chính sách về Nghèo ở vùng dân tộc thiểu số năm 2010, Hội nghị toàn quốc về Dân tộc thiểu số năm 2010, và gần đây là hỗ trợ cho các chuyến thăm của các Chuyên gia Độc lập của về dân tộc thiểu số và Báo cáo viên Đặc biệt về nghèo và nhân quyền tới Việt nam. Chúng tôi cũng xin ghi nhận sự cởi mở và nỗ lực của Chính phủ điều phối các bên tham gia vào quá trình chuẩn bị cho báo cáo thường kỳ của Việt Nam gửi Hội đồng Liên Hợp quốc về Công ước Chống phân biệt chủng tộc (CERD) năm 2011 và tham gia vào phiên trình bày báo cáo tại Uỷ ban Chống phân biệt chủng tộc của LHQ vào tháng 2 năm 2012, và ngày hôm nay là Diễn đàn chính sách về ‘Phát triển nguồn nhân lực vùng DTTS và miền núi’. Các cơ quan LHQ đánh giá rất cao và mong muốn hỗ trợ cách thức đối thoại chính sách và chia sẻ kinh nghiệm hết sức cởi mở này. 

Kính thưa quý vị đại biểu,
Trong suốt thập kỷ qua, Việt Nam đã có nhiều thành tựu to lớn trong việc đạt được Mục tiêu Thiên niên kỷ và nâng cao mức độ phát triển con người, trở thành một nước có thu nhập trung bình. Tuy vậy, các số liệu cũng cho thấy tốc độ phát triển của đồng bào dân tộc thiểu số tại những nơi hiện đang sinh sống còn thấp hơn nhiều so với mức trung bình cả nước. Chỉ chiếm 14% tổng dân số cả nước nhưng DTTS đang đại diện cho 50% số người nghèo nhất của Việt Nam và vấn đề nghèo kinh niên đang là một tồn tại trong các nhóm DTTS.

Nếu nhìn vào các chỉ số của Mục tiêu Thiên niên kỷ, DTTS cũng đang tụt hậu so với mặt bằng chung. Số liệu từ điều tra MICs từ năm 2006 đến năm 2012 cho thấy tỉ lệ chết trẻ em giảm ở bình diện quốc gia và trong nhóm dân tộc Kinh  nhưng lại tăng lên ở các DTTS. Tỉ lệ bỏ học và tỉ lệ không biết chữ ở lứa tuổi trên 15 của DTTS cũng cao hơn đáng kể so với cả nước, lấy ví dụ tỉ lệ không biết chữ của người H’mong lên tới 61% theo một nghiên cứu của Uỷ ban Dân tộc về thực trạng nguồn nhân lực vùng DTTS năm 2010.

Trong kết luận phản hồi của Uỷ ban LHQ về Xoá phân biệt chủng tộc về báo cáo   CERD của Việt Nam vào tháng 3 năm 2012 cũng kiến nghị : “ Việt Nam cần tìm ra giải pháp tạo cơ hội bình đẳng cho mọi người dân và khuyến khích nền kinh tế tăng trưởng phục vụ cho sự phát triển của các dân tộc thiểu số, đặc biệt về tạo việc làm, giáo dục và y tế. Ngoài ra, Việt Nam cần đảm bảo những người hưởng lợi  tham gia tích cực vào quá trình xây dựng và thực hiện các quyết định liên quan đến quyền và mối quan tâm của họ thông qua một quá trình tham vấn phù hợp”.

Tôi rất mong sẽ được lắng nghe các bài trình bày và thảo luận về chủ đề này trong suốt ngày hôm nay, và cũng muốn được chia sẻ một vài suy nghĩ về những ưu tiên trong phát triển nguồn nhân lực vùng DTTS.

Trước hết phải nói đến sự cần thiết phải có những chính sách có thể tạo cơ hội cho đồng bào DTTS; sau đó, tất cả các giải pháp đặt ra cần tăng cường được năng lực của người DTTS để họ có thể đón nhận được những cơ hội này; và cuối cùng, cần tạo vị thế cho họ có thể tự quyết định lựa chọn của mình. Hiện nay Việt Nam đã có các chương trình, chính sách giảm nghèo ở vùng DTTS và đẩy mạnh tiếp cận đến dịch vụ cơ bản như chương trình 135, chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo. Cũng đã có những chính sách cụ thể như chính sách hỗ trợ các dân tộc rất ít người, chính sách hỗ trợ trẻ em dân tộc thiểu số đi học, trong đó có khuyến khích giáo dục song ngữ. Tuy nhiên, các chương trình và chính sách quốc gia cần được xây dựng và thực hiện dựa vào nhu cầu và mối quan tâm của người DTTS và cân nhắc nhiều hơn đến yếu tố văn hoá và nhân học.  Nói đến năng lực phải nói đến giáo dục, sức khoẻ và kỹ năng làm việc, như những yếu tố cơ bản cần thiết cho người DTTS phát triển mọi tiềm năng của mình.

Tuy vậy vẫn còn khoảng cách giữa người DTTS và người Kinh đa số trong sức khoẻ, giáo dục và kỹ năng. Cụ thể là:
Về tiếp cận đến dịch vụ y tế có chất lượng: Chính sách bảo hiểm y tế miễn phí cho người nghèo trong đó có các hộ DTTS được đánh giá cao. Tuy nhiên chi phí tự chi trả tiếp tục giảm đi khả năng tiếp cận đến dịch vụ y tế của người nghèo, đặc biệt đồng bào DTTS sống ở những vùng hẻo lánh, điều kiện đi lại khó khăn.

Tiếp cận tới chăm sóc y tế ban đầu, chăm sóc sức khoẻ sinh sản và sức khoẻ bà mẹ trẻ em cũng rất quan trọng để có sức khoẻ tốt.  Cần có giải pháp để tăng chất lượng chăm sóc sức khoẻ, sử dụng kỹ thuật để tiếp cận tốt hơn tới nguồn nước sạch và vệ sinh cũng như đào tạo để đảm bảo đào tạo cán bộ y tế có hiểu biết văn hoá của đồng bào DTTS nhằm tăng cường tiếp cận đến dịch vụ y tế ở các cộng đồng DTTS. 

Tiếp cận đến dịch vụ giáo dục có chất lượng và phù hợp với văn hoá DTTS: Rào cản ngôn ngữ là một trong những rào cản chính ngăn không cho DTTS tiếp cận đầy đủ tới các dịch vụ cơ bản. Thế giới đã chứng minh rằng trẻ em sẽ học tốt nhất nếu được học bằng tiếng mẹ đẻ và được dùng những hình ảnh minh hoạ ẩn dụ từ chính nền văn hoá của mình.  Do vậy cần điều chỉnh  chương trình giảng dạy phù hợp với văn hoá của người DTTS và áp dụng phương pháp dạy học lấy học sinh làm trung tâm để tạo cho các em bé DTTS đủ tự tin và sự ham học để đi học, duy trì việc học và học tốt ở trường.

Việc Nghị định 82 ra đời đã đi thêm một bước trong việc đưa giáo dục song ngữ vào hệ thống. Tôi cũng xin ghi nhận cam kết mạnh mẽ của Bộ trưởng Giàng Seo Phử trong việc nhân rộng việc giáo dục song ngữ khỏi cách làm ‘thử nghiệm’ hiện nay. Tôi cũng rất mong được nghe thêm về quá trình triển khai Nghị định này và kinh nghiệm về giáo dục song ngữ trong hội thảo này.

Ngoài ra, những người cung cấp dịch vụ như y tá, bác sĩ, giáo viên là người dân tộc thiểu số, nói ngôn ngữ DTTS và hiểu văn hoá của cộng đồng sẽ giúp giảm rào cản tới tiếp cận dịch vụ và là yếu tố quan trọng để đảm bảo quyền được tiếp cận tới giáo dục, chăm sóc y tế và khám chữa bệnh  bằng tiếng mẹ đẻ của người DTTS được thực hiện. Cũng cần cân nhắc thêm việc ứng dụng các giải pháp mang tính sáng tạo trong cung cấp dịch vụ để dịch vụ đến được tới những cộng đồng DTTS ở vùng sâu vùng xa, ví dụ như nghiên cứu sử dụng công nghệ dịch vụ viễn thông vào trong y tế và giáo dục, như đã thành công ở Ấn độ và Bu tan.

Tiếp cận đến phát triển kỹ năng: Phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao là một trong ba trụ cột mang tính đột phá của Chiến lược PTKTXH giai đoạn 2011-2020. Tuy nhiên, với gần 75% dân số ở vùng DTTS và miền núi đang ở trong độ tuổi lao động, phần lớn vẫn chưa qua đào tạo. Cần thiết phải có giải pháp cụ thể và đột phá để người DTTS được tiếp cận tới đào tạo kỹ năng và qua đó kết nối được với thị trường lao động.

Năng lực cán bộ: Kinh nghiệm quốc tế cho thấy sự tham gia của người DTTS vào hệ thống của Chính phủ sẽ giúp các chiến lược và chính sách quốc gia được hoạch định và thực hiện một cách thiết thực, gắn liền với văn hoá DTTS hơn. Những lãnh đạo và cán bộ người DTTS trong hệ thống của Chính phủ sẽ giúp sử dụng tốt hơn các tri thức bản địa, văn hoá, các hệ thống luật tục trong quá trình phát triển nông nghiệp, nông thôn, quản lý nguồn tài nguyen, đất đai, rừng, bảo vệ môi trường, chăm sóc sức khoẻ và quản lý cộng đồng người DTTS. Sẽ cần tiếp tục tăng cường sự tham gia và năng lực cán bộ người DTTS trong hệ thống quản lý các cấp ở Việt Nam.

Các chính sách và cơ chế thực hiện chính sách hiện nay cũng cần được rà soát để xác định ra các lỗ hổng chính sách và đề xuất những hướng giải quyết mới. Những bài học tốt như ở Tỉnh Tuyên Quang, với nỗ lực hỗ trợ tất cả các cán bộ ở các cấp có bằng đại học, cần được các địa phương học hỏi như một cách làm mới.
 
Một lần nữa tôi xin cảm ơn UBDT và Hội đồng Dân tộc Quốc hội, ông K’Sor Phước và ông Giàng Seo Phử đã phát huy vai trò lãnh đạo của mình, và xin cảm ơn các cán bộ của UBDT đã làm việc rất tích cực để cho chúng ta cơ hội cùng ngồi đây và thảo luận những vấn đề chính sách quan trọng trong Diễn đàn ngày hôm nay.
 
Các cơ quan LHQ tại Việt Nam coi sự phát triển của DTTS là một trong những ưu tiên hàng đầu trong Kế hoạch chung 2012-2016. Chúng tôi sẵn sàng sát cánh cùng với Chính phủ, UBDT và Hội đồng Dân tộc, những cơ quan đi đầu trong lĩnh vực này để cùng nỗ lực làm việc vì sự phát triển của đồng bào DTTS của Việt nam. Tôi cũng xin nhắc lại cam kết mạnh mẽ của chúng tôi trong việc tiếp tục hỗ trợ Chính phủ nghiên cứu, thảo luận sâu và cởi mở hơn nữa những chính sách dân tộc đang có liên quan trực tiếp đến người dân tộc thiểu số, phụ nữ, trẻ em DTTS, các nhà lập sách, các tổ chức xã hội dân sự và các đối tác phát triển.
 
Rất mong được lắng nghe các bài trình bày bổ ích và những thảo luận sôi nổi cũng như những đề xuất cụ thể trong diễn đàn chính sách ngày hôm nay. 

Xin cảm ơn và chúc sức khoẻ.