Việt Nam và UNDP
Quá khứ, Hiện tại và Tương lai
UNDP có mặt tại Việt Nam từ năm 1977 khi rất ít nhà tài trợ hoạt động tại đây. Chỉ có Thụy Điển, Phần Lan và một số tổ chức khác thuộc hệ thống Liên Hợp Quốc hiện diện trong giai đoạn này, trong khi phần lớn các nhà tài trợ lớn khác của Việt Nam chỉ bắt đầu hoặc nối lại chương trình viện trợ của mình từ năm 1993. Vai trò của UNDP đã thay đổi và góp phần xúc tiến từng giai đoạn chuyển đổi của Việt Nam từ sau khi kết thúc chiến tranh vào năm 1975.
2001 – 2010: Xuất hiện các cơ hội và thách thức
1999 – đầu 2002: Kinh tế Việt Nam bắt đầu khởi sắc
1997 – 1999: Cuộc khủng hoảng khu vực làm tăng thêm nhu cầu duy trì ổn định
1994 – 1997: Tăng cường các biện pháp cải cách thể chế, luật pháp và điều tiết
1989 – 1993: Đẩy nhanh tốc độ đổi mới
1986 – 1989: Giai đoạn đầu của tiến trình đổi mới
1975 – 1986: Tái thiết và phục hồi thời hậu chiến
2001 – 2010: Xuất hiện các cơ hội và thách thức
Hướng về tương lai, Việt Nam đang đứng trước với hàng loạt những cơ hội và thách thức trong đó có: cần xóa đói giảm nghèo nhiều hơn nữa; quá trình toàn cầu hóa nhanh chóng về thương mại, tài chính, thông tin và tri thức; nhu cầu xây dựng các thiết chế nhà nước hiệu quả hơn, linh hoạt hơn và nhạy bén hơn; tạo thêm việc làm cho lực lượng lao động trẻ ngày càng tăng nhanh về số lượng và kỳ vọng; các dịch vụ y tế và giáo dục với chất lượng cao hơn; cạnh tranh với Trung Quốc; thực hiện Hiệp định thương mại song phương với Hòa Kỳ; và tăng thêm thu nhập và tích lũy trong nước để tài trợ bền vững cho phức độ phát triển cao hơn cũng như nhu cầu cuộc sống của người dân trong khi phải tránh lệ thuộc vào nguồn tài trợ từ bên ngoài. Thể theo những nhu cầu và ưu tiên của Việt Nam cũng như quá trình cải cách của UNDP, UNDP tại Việt Nam đang ngày càng chuyển hướng mạnh hơn sang việc trợ giúp tăng cường năng lực và tư vấn chính sách ở cấp vĩ mô, nhằm hỗ trợ cho các chính sách hỗ trợ người nghèo và xây dựng thể chế. Chương trình trong tương lai của UNDP sẽ tập trung vào các lĩnh vực chủ yếu sau: 1) Quản lý quá trình toàn cầu hóa; 2) Tạo dựng một môi trường kinh doanh thuận lợi; 3) Xây dựng quan hệ đối tác phục vụ sự nghiệp xóa đói giảm nghèo; 4) Tài trợ bền vững cho sự nghiệp phát triển; 5) Cải cách hành chính; 6) Xây dựng chế độ pháp quyền và công lý cho mọi người; 7) Giảm nhẹ rủi ro thiên tai; và 8) Quản lý môi trường. Thêm vào đó, trong các lĩnh vực cải cách hành chính, cải cách luật pháp và hỗ trợ cho Quốc hội, Chính phủ Việt Nam và nhiều nhà tài trợ trông đợi UNDP đóng vai trò ngày càng nhiều hơn trong việc hỗ trợ nỗ lực của Chính phủ trong công tác điều phối viện trợ phát triển chính thức. 1999 – đầu 2002: Kinh tế Việt Nam bắt đầu khởi sắc
Trong giai đoạn này, nền kinh tế của Việt Nam bắt đầu khởi sắc trở lại, bước đầu phù hợp với sự cải thiện của nền kinh tế trong khu vực trong năm 2000. Sau đó nhu cầu xuất khẩu suy giảm do tình trạng suy yếu của nền kinh tế khu vực và toàn cầu được bù đắp lại bằng nhu cầu mạnh mẽ trong nước được thúc đẩy phần lớn bởi sự gia tăng tín dụng và chính sách tài khóa được nới lỏng, cũng như bởi sự cải thiện lòng tin của các nhà đầu tư do việc thông qua Luật Doanh nghiệp mới và việc phê chuẩn Hiệp định Thương mại song phương với Hòa Kỳ. UNDP tiếp tục trợ giúp Bộ Kế hoạch & Đầu tư thông qua Viện Quản lý kinh tế trung ương, trong việc soạn thảo và thực hiện Luật Doanh nghiệp mới được Quốc hội thông qua năm 1999 và có hiệu lực từ tháng 1 năm 2000. Từ đầu năm 2000, Luật Doanh nghiệp đã góp phần tạo thêm gần 40.000 doanh nghiệp ngoài quốc doanh và gần một triệu việc làm mới. UNDP đã hỗ trợ việc thực hiện có hiệu quả sắc luật rất quan trọng này. UNDP cũng cung cấp trợ giúp kỹ thuật nhằm tăng cường năng lực trong lĩnh vực cải cách luật pháp và cải cách hành chính, với các dự án tại Văn phòng Quốc hội, Bộ Tư pháp và Ban Tổ chức cán bộ Chính phủ. Những kết quả nổi bật của các dự án này là Báo cáo đánh giá nhu cầu cải cách luật pháp và Chiến lược cải cách hành chính. UNDP đóng vai trò then chốt trong việc tạo điều kiện và điều phối trợ giúp và sự tham gia của các nhà tài trợ vào những hoạt động này. UNDP cũng hỗ trợ việc sản xuất và phổ biến một CR-ROM mới được gọi là “Luật sư của bạn” trong đó có nhiều thông tin bổ ích về các quyền hợp pháp của người dân trong cả nước. Trong suốt năm 2000 và đầu năm 2001, UNDP đã cung cấp ý kiến tư vấn chính sách mang tính trung lập cho Viện Chiến lược phát triển và Ban soạn thảo Chiến lược Phát triển kinh tế - xã hội 10 năm 2001-2010. Nhờ vị thế trung lập của UNDP, lần đầu tiên Chính phủ cho phép tổ chức một quá trình tham khảo ý kiến hết sức cởi mở với cộng đồng các nhà tài trợ quốc tế trong giai đoạn soạn thảo Chiến lược này. Trong vòng 18 tháng, một loạt các cuộc Tham khảo ý kiến bàn tròn cấp cao và các cuộc Hội thảo kỹ thuật đã được tổ chức, với sự tham gia của các quan chính cao cấp của Chính phủ, trong đó có Phó Thủ tướng thường trực Nguyễn Tấn Dũng cũng như nhiều vị Bộ trưởng, Thứ trưởng và các vị đại diện cao cấp của cộng đồng các nhà tài trợ và các tổ chức phi chính phủ quốc tế. Chiến lược Phát triển kinh tế - xã hội 2001-2010 được Đại hội IX của Đảng Cộng sản Việt Nam thông qua tháng 4/2001 và Quốc hội thông qua tháng 10 cùng năm. Đáng chú ý là, quá trình nghiên cứu và tham khảo ý kiến đã thành công trong việc chuyển trọng tâm của Chiến lược nhiều hơn sang nâng cao mức sống của người dân và phát triển con người và giảm bớt sự quan tâm đến mục tiêu dài hạn của Chính phủ là “công nghiệp hóa và hiện đại hóa”. Lần đầu tiên, Chiến lược của Chính phủ đề cập đến việc “tăng đáng kể Chỉ số phát triển con người” của Việt Nam như là một chỉ tiêu phát triển lớn của đất nước trong thập kỷ tới. UNDP cũng cung cấp ý kiến tư vấn chính sách trung lập cho việc soạn thảo Chiến lược toàn diện về giảm nghèo và tăng trưởng (CPRGS) của Việt Nam và Văn bản Chiến lược về giảm nghèo (PRSP) nhằm xóa nạn đói kinh niên vào năm 2005, giảm một nửa tỷ lệ nghèo vào năm 2010, và thực hiện thành công các Mục tiêu Phát triển Thiên niên kỷ. UNDP đã hợp tác với các tổ chức khác thuộc hệ thống Liên Hợp Quốc trong việc “địa phương hóa” các Mục tiêu Phát triển Thiên niên kỷ và cùng đóng góp ý kiến cho bản thảo thứ nhất của CPRGS. 1997 – 1999: Cuộc khủng hoảng khu vực làm tăng thêm nhu cầu duy trì ổn định
Vào giữa năm 1997, một cuộc khủng hoảng kinh tế và tài chính đã bùng phát ở Đông Nam Á và lan rộng ra khắp vùng Đông Á. May mắn thay, UNDP không bị ảnh hưởng tiêu cực của cuộc khủng hoảng này như nhiều nước láng giềng phần lớn nhờ thực tế là Việt Nam phụ thuộc rất ít vào nguồn tài chính thanh khoản của nước ngoài. Tuy nhiên, tốc độ tăng trưởng kinh tế của Việt Nam đã giảm xuống còn 4-6%/năm theo đà giảm nhu cầu xuất khẩu và mức độ giảm nhanh chóng của đầu tư trực tiếp nước ngoài. Cuộc khủng hoảng khu vực đã nhấn mạnh tầm quan trọng của công tác quản trị quốc gia và các thiết chế để đối phó có hiệu quả với những cuộc khủng hoảng như vậy, và Việt Nam vẫn tiến bước mặc dù có phần thận trọng hơn trong giai đoạn này, với sự trợ giúp của UNDP cho việc thực hiện thêm các biện pháp cải cách chính sách và thể chế. UNDP đã tiếp tục trợ giúp cho việc xây dựng chính sách và tăng cường thể chế ở cấp vĩ mô. Đáng kể nhất là, vào năm 1997 UNDP đã ký kết và bắt đầu thực hiện một dự án nhằm cải thiện môi trường điều tiết cho kinh doanh mà cuối cùng đã dẫn đến Luật Doanh nghiệp được nhiệt liệt hoan nghênh và được coi là hết sức thành công. UNDP cũng cung cấp ý kiến tư vấn chính sách kịp thời cho Chính phủ trong cuộc khủng hoảng kinh tế - tài chính khu vực, đặc biệt với việc ấn hành trong tháng 6/1998 báo cáo nghiên cứu của các chuyên viên UNDP có tiêu đề “Đông Á: Từ câu chuyện thần kỳ đến khủng hoảng – Những bài học kinh nghiệm cho Việt Nam”. Tài liệu nghiên cứu chính sách này nêu ra những bài học lớn, tích cực cũng như tiêu cực, rút ra từ các nước trong khu vực trong 40 năm qua. Tài liệu này được đón nhận nhiệt liệt trong các giới quan chức Đảng và Chính phủ, và nó đã góp phần đưa đến việc tổ chức một cuộc hội nghị bàn tròn quốc tế cao cấp tổ chức vào tháng 8 năm 1998, với sự tham gia của các cố vấn và nhà nghiên cứu hàng đầu của nhiều nước trong và ngoài khu vực. 1994 – 1997: Tăng cường các biện pháp cải cách thể chế, luật pháp và điều tiết
Đặc điểm của giai đoạn này là tỷ lệ tăng trưởng kinh tế cao và tiếp tục cải thiện cuộc sống của người dân do cầu của nền kinh tế phản ứng tích cực với những biện pháp cải cách mạnh mẽ được thực hiện từ những năm trước đó, cũng như với sự kích thích tài chính bắt nguồn từ những luồng ODA và FDI chảy vào Việt Nam ngày càng nhiều hơn. Với tình hình kinh tế vĩ mô được cải thiện, Chính phủ bắt đầu tập trung nhiều hơn vào các biện pháp cải cách về thể chế, luật pháp và điều tiết. UNDP đã đáp ứng bằng cách cung cấp trợ giúp kỹ thuật nhằm nâng cao năng lực ở một số lĩnh vực mang tính chiến lược, trong đó có: cải cách hành chính, cải cách luật pháp, cải cách chi tiêu công, và cải thiện môi trường điều tiết cho các doanh nghiệp ngoài quốc doanh để tạo thêm việc làm, tăng thêm thu nhập, xóa đói giảm nghèo, tăng tích lũy trong nước nhằm tài trợ và duy trì trình độ phát triển ngày càng cao của đất nước và mức sống ngày càng cao của người dân. Sau khi có thêm nhiều nhà tài trợ mới đến Việt Nam, từ năm 1994 UNDP bắt đầu tập trung trực tiếp hơn vào xóa đói giảm nghèo và phát triển con người bền vững, đặc biệt là thông qua trợ giúp nâng cao năng lực vì nền quản trị quốc gia hiệu quả, chính sách vì người nghèo, phát triển thể chế vì người nghèo. UNDP đã hỗ trợ Chính phủ trong công tác điều phối viện trợ phát triển chính thức, tạo nên sự hiểu biết chung và xúc tiến tinh thần đối tác. Tháng 3 năm 1995, UNDP đã khai trương Diễn đàn hàng tháng của các nhà tài trợ, thu hút sự tham gia của đại diện cao cấp của cộng đồng các nhà tài trợ tại Việt Nam cũng như các quan chức Chính phủ thường là ở cấp bộ/thứ trưởng. Diễn đàn này gặp gỡ mỗi tháng một lần để trao đổi các vấn đề ưu tiên và thách thức phát triển đối với đất nước, qua đó để chia sẻ thông tin, tạo ra sự hiểu biết chung và thỏa thuận về các biện pháp để cộng đồng các nhà tài trợ hỗ trợ tốt nhất cho Việt Nam. Những phiên họp của Diễn đàn này đã có sự tham gia của Bộ trưởng của các bộ như Kế hoạch & Đầu tư, Tài chính, Tư pháp, Thương mại, Thống đốc Ngân hàng nhà nước, và nhiều quan chức cao cấp khác của Chính phủ. Gần đây hơn, Diễn đàn đã tổ chức các phiên họp với sự tham gia của các cố vấn chính sách tầm cỡ quốc tế như người đoạt giải Nobel Giáo sư Joseph Stiglitz và Giáo sư Janos Kornai – vốn được coi là “Người cha đẻ của kinh tế học chuyển đổi.” Diễn đàn này đã góp phần xây dựng tinh thần đối thoại thường xuyên, tăng cường sự hiểu biết lẫn nhau và tạo ra các sáng kiến chung giữa Chính phủ và các nhà tài trợ. 1989 – 1993: Đẩy nhanh tốc độ đổi mới
Đặc điểm của giai đoạn này là việc thực hiện các biện pháp cải cách kinh tế vĩ mô quyết liệt hơn, trong đó có: tự do hóa phần lớn các loại giá; cắt giảm mạnh sự gia tăng tiền tệ và tín dụng; phá giá đáng kể và thống nhất tỷ giá hối đoái; xóa bỏ bù giá trực tiếp cho các doanh nghiệp nhà nước; cắt giảm số lượng các doanh nghiệp nhà nước từ 12.000 xuống còn khoảng 6.000 đơn vị thông qua việc xát nhập và giải thể; xây dựng hệ thống ngân hàng hai cấp; tăng cường và duy trì tỷ lệ lãi suất thực dương; và tăng cường thực hiện chính sách “mở cửa”. Những kết quả thu được ban đầu là rất ấn tượng, trong đó có: đất nước thóat ra khỏi cuộc khủng hoảng kinh tế - xã hội của những năm 1980; GDP tăng trưởng nhanh chóng (trung bình gần 9%/năm trong giai đoạn 1994-1997); giảm tỷ lệ lạm phát từ ba con số xuống còn một con số; và tạo ra sự ổn định cho toàn bộ nền kinh tế. Trong giai đoạn này UNDP bắt đầu chuyển hướng mạnh hơn sang các hoạt động ở cấp vĩ mô về tăng cường năng lực, hỗ trợ cho các biện pháp cải cách chính sách và thể chế. Về việc hỗ trợ Việt Nam mở cửa ra thế giới bên ngoài và hội nhập với cộng đồng quốc tế, UNDP đã trợ giúp trong việc soạn thảo Luật Đầu tư trực tiếp nước ngoài đầu tiên vào năm 1991 và tổ chức Diễn đàn đầu tư đầu tiên vào năm 1992. Đồng thời, UNDP còn giúp Chính phủ trong việc tổ chức thành công Hội nghị Tài trợ quốc tế đầu tiên vào năm 1993, huy động được 1,8 tỷ USD cam kết tài trợ (tương đương 2,4 tỷ USD ngày nay). Tại Hội nghị này, Chính phủ chính thức yêu cầu UNDP đóng vai trò quan trọng trong các cuộc Hội nghị Nhóm tư vấn các nhà tài trợ hàng năm và giữa kỳ do Ngân hàng Thế giới làm chủ tọa. UNDP cũng đã giúp Việt Nam tham gia vào quá trình thương lượng với các nước ven sông Mê-công, dẫn đến việc ký kết Hiệp định Mê-công và việc thành lập Ủy hội Quốc tế về sông Mê-công vào năm 1995, qua đó góp phần bảo đảm sự ổn định trong vùng. UNDP còn hỗ trợ Việt Nam trong việc chuẩn bị gia nhập Hiệp hội các nước Đông Nam Á vào giữa năm 1997 và Khu vực Tự do thương mại ASEAN sau đó. UNDP cũng trợ giúp kỹ thuật giúp Việt Nam chuẩn bị bước đầu cho quá trình tham gia vào Tổ chức Thương mại thế giới. 1986 – 1989: Giai đoạn đầu của tiến trình đổi mới
Chương trình cải cách của Chính phủ, được biết đến với cái tên Đổi mới, được chính thức phát động vào năm 1986 nhằm khôi phục sức sống cho nền kinh tế đất nước. Tiến trình cải cách này có hai đặc điểm là (i) ổn định tình hình kinh tế vĩ mô, cải cách thị trường và từng bước từ bỏ chế độ kế hoạch hóa tập trung, và (ii) từng bước mở cửa với các nước trên thế giới thông qua việc thực hiện một chính sách rộng mở hơn. UNDP đã khuyến khích, tạo điều kiện và trực tiếp hỗ trợ cả hai hướng này của tiến tình đổi mới, ví dụ bằng cách tổ chức tập huấn/đào tạo cho các cán bộ cao cấp về các nguyên lý và chính sách kinh tế thị trường, cung cấp chuyên gia và cố vấn quốc tế để tư vấn về quá trình chuyển đổi, cung cấp trợ giúp kỹ thuật cho việc tổ chức các cuộc đánh giá ngành và xây dựng quy hoạch tổng thể cho một số ngành kinh tế then chốt. Tiến trình đổi mới, đặc biệt là cải cách chính sách đất đai và tự do hóa giá cả nông nghiệp trong phần cuối của thập kỷ 1980, đã có tác động lớn đến sự nghiệp xóa đói giảm nghèo. Cải cách chính sách đất đai thực chất là chuyển giao việc quản lý đất nông nghiệp từ các hợp tác xã thuộc nhà nước sang các gia đình nông dân thông qua việc chuyển giao “quyền sử dụng đất”. Kết quả là, từ một nước thiếu lương thực thực phẩm và nhập khẩu gạo vào giữa những năm 1980, Việt Nam đã trở thành một nước dư thừa lương thực thực phẩm và ngày nay là nước xuất khẩu gạo lớn thứ hai trên thế giới. Việt Nam cũng là một trong những nước xuất khẩu lớn nhất trên thế giới về cà-phê Robusta và một số nông sản khác. Tỷ lệ nghèo ở Việt Nam đã giảm từ trên 70% vào giữa những năm 1980 xuống còn 37% năm 1998 và ngày nay còn khoảng 32% (dựa theo chuẩn nghèo quốc tế). 1975 – 1986: Tái thiết và khôi phục thời hậu chiến
Đặc điểm của giai đoạn này là Việt Nam tiếp tục phải đương đầu với khó khăn, gian khổ do hậu quả của chiến tranh. Tình hình này càng trở nên nghiêm trọng hơn do mô hình kế hoạch tập hóa trung theo kiểu Liên Xô, từ đó dẫn đến thiếu thốn nghiêm trọng về lương thực, thực phẩm và các nhu yếu phẩm khác cũng như một cơ sở hạ tầng kỹ thuật hết sức lạc hậu. Do Việt Nam chủ yếu tập trung vào công tác tái thiết và khôi phục sau chiến tranh, UNDP đã trợ giúp các nỗ lực tái thiết của Việt Nam, chủ yếu về công nghiệp và nông nghiệp, thông qua chuyển giao công nghệ và bí quyết kỹ thuật. Do đó UNDP là một trong số ít cầu nối của Việt Nam với thế giới bên ngoài trong thời kỳ sau chiến tranh khi Việt Nam bị cô lập với thế giới bên ngoài, kéo dài đến khoảng năm 1993.